Những Đạo Lý Căn Bản

Đây là bài 3 trong số 5 bài trong series bài viết Đạo Phật và Sự sống

Đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý duyên khởi, tứ diệu đế và bát chánh đạo.  Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái Phật Giáo, nguyên thỉ cũng như đại thừa.  Giáo phái Theravada hiện giờ thịnh hành tại các nước Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Campuchia tự nhận là gần với Phật Giáo thời Phật tại thế, gọi là Phật Giáo Nguyên Thỉ.  Giáo phái đại thừa hiện giờ thịnh hành tại Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên cũng tự nhận là phù hợp với tinh thần Phật Giáo Nguyên Thỉ, nhưng cho rằng ta phải thích nghi với những điều kiện sinh hoạt văn hóa và kinh tế của từng thời đại và địa phương thì ta mới có thể nuôi dưỡng tinh thần ấy được.  Ở Việt Nam hai giáo phái Theravada và Đại Thừa, từ năm 1964 trở đi, đã được kết hợp cùng trong một giáo hội Phật giáo, gọi là GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT.  Đây cũng là một điểm đặc sắc của đạo Phật Việt Nam, bởi vì chính ở Việt Nam hai giáo phái Theravada và Đại Thừa được kết hợp đầu tiên trong một giáo hội.  Theravada nguyên là giáo phái do các bậc trưởng lão trong giáo hội nguyên thỉ chủ trì, thuộc về thiểu số, còn Đại Thừa phát sinh từ giáo phái Mahasanghika gọi là ĐẠI CHÚNG BỘ tức là giáo phái của đa số những người trẻ trong Giáo Hội Nguyên Thỉ chủ trì, có tinh thần cấp tiến và dung hợp nhiều hơn Đại Thừa (Mahayana) là con đường hoặc cỗ xe lớn, chỉ cho sự hành đạo và cứu độ nhắm tới tập thể mà không phải là cá nhân.

Những Đạo Lý Căn Bản
Vô thường

Duyên Khởi

Đạo lý duyên khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới thực tại.  Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh thành và tồn tại.  Không những các sự kiện thuộc thế giới nhân sự như thành, bại, thịnh, suy mà tất cả những hiện tượng thuộc thế giới tự nhiên như núi, sông, hoa, cỏ cũng đều vâng theo luật duyên khởi mà sinh thành, tồn tại và tiêu hoại.

DUYÊN (Pratyaya) là những điều kiện.  Sự sinh thành của một cái bàn chẳng hạn, tùy thuộc ở những điều kiện như gỗ, cưa, đinh, búa, người thợ mộc, vân vân… Vậy gỗ, cưa, đinh, búa, người thợ mộc là những DUYÊN cần thiết cho sự phát sinh của cái bàn.  Sự sinh thành của một đứa bé cũng tùy thuộc ở những DUYÊN như tinh huyết của cha mẹ, thời gian thai nghén, sức ấm vân vân… Sự sinh thành của một nền dân chủ cũng tùy thuộc ở những DUYÊN như ý thức về quyền lợi và bổn phận của người dân, sự tranh thủ chính trị, sự bảo vệ hiến pháp, vân vân… Bất cứ một hiện tượng nào trong vũ trụ, tinh thần hay vật chất, đều do sự tập hợp của các DUYÊN mà thành.  Sự vật nương vào nhau mà sinh thành và tồn tại, không có sự vật vào có thể tự mình sinh ra mình và tự mình tồn tại độc lập với những sự vật khác.  Đó là yếu lý duyên khởi của đạo Phật.

Có bốn loại DUYÊN cần được phân biệt.  Thứ nhất là NHÂN DUYÊN có thể gọi là điều kiện gần gũi nhất, ví như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa, gỗ là nhân duyên của cái bàn và đất sét là nhân duyên của cái bình.  Thứ hai là TĂNG THƯỢNG DUYÊN tức là những điều kiện trợ lực cho nhân duyên, ví như phân bón và nước là tăng thượng duyên cho hạt lúa trở thành cây lúa, người thợ mộc và cây cưa là tăng thượng duyên cho khúc gỗ trở thành cái bàn, nước và lò gốm là tăng thượng duyên cho đất sét trở thành cái bình.  Thứ ba là SỞ DUYÊN DUYÊN tức là những điều kiện làm đối tượng cho nhận thức, như hình sắc phát sinh ra cái thấy, âm thanh phát sinh ra cái nghe và tư tưởng phát sinh ra ý lự.  Thứ tư là ĐẰNG VÔ GIÁN DUYÊN tức là sự liên tục không gián đoạn cần thiết cho mọi sự phát sinh, trưởng thành và tồn tại.

Luật nhân quả cần được quan sát và áp dụng theo nguyên tắc duyên sinh mới có thể gọi là luật nhân quả đạo Phật.  Theo đạo lý duyên sinh, một NHÂN đơn độc không bao giờ có khả năng sinh ra quả, và một NHÂN bao giờ cũng đóng vai trò QUẢ, cho một NHÂN khác.

Ta đã biết rằng hạt lúa là NHÂN của cây lúa.  Nhưng ta cũng đã biết thêm rằng nếu không có những tăng thượng duyên như đất, ánh sáng, nước và thời gian thì hạt lúa không bao giờ trở nên cây lúa được.  Vậy ta kết luận: một nhân đơn độc không bao giờ có khả năng phát sinh ra quả.  Do đó ta có thể nói: Vạn vật trong vũ trụ nương nhau mà phát sinh; nên ta không thể nói: (ví dụ) thái cực phát sinh ra vũ trụ.  Tại sao?  Bởi vì thái cực và thần linh, nếu là những nguyên nhân đơn độc, làm sao có khả năng phát sinh ra quả tức là thế giới?  Do đó, thuyết thái cực phát sinh hoặc thần linh sáng tạo vũ trụ đi ngược với đạo lý duyên khởi.  Chẳng những thế mà khi nói chân như (1) phát sinh vạn hữu, người Phật tử cũng đi ngược với đạo lý duyên khởi, nếu người Phật tử nghĩ rằng chân như là nguyên nhân đơn độc và đầu tiên.  Có những triết gia và thần học gia cho rằng thái cực hoặc thần linh không phải là nguyên nhân đầu tiên mà chỉ là thực thể của hiện hữu vượt ngoài thời gian và không gian (2), trong trường hợp này họ cũng không đi ngược lại đạo lý duyên khởi của đạo Phật.

(1)    Chân như (Bhutatahata) là thực thể của vạn hữu.

(2)    Như Paul Tillich, nhà thần học Cơ Đốc nổi danh ở Đức Quốc nói:  “Thượng Đế không phải là nguyên nhân đầu tiên.  Nói “Thượng Đế là nguyên nhân đầu tiên” chỉ là một cách nói mà thôi” (Paul Tillich, Systematic Theology)

Trên thực tế, ta chưa từng thấy một nhân đơn độc nào có thể sinh ra quả, mà ta cũng chưa từng thấy một nhân mà không phải là một quả cho một nhân khác.  Nếu ta cho rằng chân như hoặc thái cực hoặc thần linh làm phát sinh ra vũ trụ tức là ta công nhận: Một nhân đơn độc có thể làm phát sinh ra quả.  Đó là một điều sai lạc.  Hơn nữa, cái nhân đơn độc ấy do đâu mà có?  Nếu không do đâu cả thì điều đó trái chống với luật nhân quả; nếu do một nhân khác sinh ra thì lại không phải là nguyên nhân đầu tiên.  Cho nên ta thấy nhận thức về thái cực và về thần linh như THẬT THỂ CỦA VŨ TRỤ VƯỢT NGOÀI KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN có thể đi đôi với đạo lý duyên sinh của Phật dạy.  Trong kinh A Hàm, Phật dạy: “Vì cái này có cho nên cái kia có, vì cái này không cho nên cái kia không, vì cái này sinh cho nên cái kia sinh, vì cái này diệt cho nên cái kia diệt”.  Đó là sự diễn tả đơn giản và đúng mức của đạo lý duyên khởi.  Nhật thức duyên khởi có thể được kiểm chứng bởi bất cứ ai, bởi vì đó không phải là một tín điều siêu hình, đó là sự thật thực nghiệm, phù hợp với nhận thức khoa học thực nghiệm.  Phát minh ra đạo lý duyên khởi, Đức Phật soi cho ta thấy rõ bộ mặt của thực hữu, tránh cho ta bao nhiêu ngộ nhận sai lầm về vấn đề nguyên ủy vũ trụ và giúp cho ta thành đạt trong phạm vi trí tuệ tu dưỡng cũng như trong phạm vi hành động thực tiễn.  Thực vậy, đạo lý duyên khởi là đạo lý căn bản phá trừ vô minh và cố chấp, đồng thời cũng là một đạo lý căn bản cho hành động nhập thế.  Phật tử phải tìm hiểu thấu đáo về đạo lý duyên khởi để áp dụng trong việc tu huệ cũng như trong việc tu phước; những diễn bày trong sách này về đạo lý duyên khởi chẳng qua chỉ mới là bước đầu mà thôi.

 

Vô Thường, Không và Vô Ngã

Trong đạo Phật, ta thường nghe nói đến giáo lý VÔ THƯỜNG, KHÔNG và VÔ NGÃ.  Những giáo lý này cũng phát sinh từ một căn bản với giáo lý duyên khởi.  VÔ THƯỜNG là tính cách thay đổi không ngừng của vạn sự vạn vật.  Không có sự vật nào nằm yên bất biến, do đó không có sự vật nào giữ được tính cách đồng nhất tuyệt đối của nói; đó là VÔ NGÃ.  Sự vật đã luôn luôn chuyển biến và không giữ được tính cách đồng nhất của chúng tức là sự vật trống rỗng: đó là KHÔNG.  Chữ KHÔNG ở đây có nghĩa là trống rỗng, không chắc thật, chứ không có nghĩa là không có sự vật.  Sự vật vẫn có, nhưng trong lòng sự vật người ta không tìm thấy tính cánh thường còn và đồng nhất, thế thôi.

Theo đạo lý duyên khởi, vạn vật nương vào nhau mà sinh khởi, tồn tại và tiêu hoại.  Như thế vạn vật phải là VÔ THƯỜNG, bởi vì nếu không vô thường thì vạn vật sẽ bất sinh bất diệt.  Vạn vật cũng VÔ NGÃ, bởi vì mỗi vật là do sự tập hợp của nhiều vật (duyên) mà thành.  Vạn vật cũng là KHÔNG, bởi vì đã do các duyên mà thành, thì trong tự thân vạn vật không có một thực thể thường còn và đồng nhất.

Các bài trong mục<< Áp dụng Đạo Phật trong đời sống mớiTứ Diệu Đế >>

Chia sẻ Bài viết này