Tứ Diệu Đế

Đây là bài 4 trong số 5 bài trong series bài viết Đạo Phật và Sự sống

Giáo lý căn bản thứ hai của đạo Phật là giáo lý TỨ DIỆU ĐẾ, tức là bốn sự thật lớn.  Giáo lý này được diễn tả trong nhiều kinh điển, mà kinh điển đầu tiên là kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN.  Bốn sự thật lớn là: sự có mặt của những khổ đau (khổ), những nguyên nhân tạo nên khổ đau (tập), niềm an lạc khi khổ đau đã diệt (diệt) và con đường đạt tới niềm an lạc diệt khổ (đạo).

Phật thuyết về Tứ diệu đế
Phật thuyết về Tứ diệu đế

Giáo lý Tứ Diệu Đế là nguyên lý hành đạo có tính cách thực nghiệm và trị liệu.  Tất cả các giáo lý Phật Giáo nguyên thỉ hay đại thừa đều được diễn bày theo nguyên lý Tứ Diệu Đế này.  Cũng như giáo lý Duyên Khởi, giáo lý Tứ Diệu Đế không phải là những tín điều siêu hình mà là một nguyên lý có thể kiểm chứng được.  Giáo lý “Bốn Sự Thật Lớn” được căn cứ trên luật nhân quả.  Ta thấy hai cặp nhân quả sau đây:

1.  QUẢ: Sự có mặt của khổ đau (khổ đế)

NHÂN: Những nguyên nhân tạo thành khổ đau (tập đế)

2.  QUẢ:  Niềm an lạc khi khổ đau đã diệt (diệt đế)

NHÂN: Con đường đi tới niềm an lạc diệt khổ (đạo đế).

Chúng ta hãy thử áp dụng nguyên lý tứ diệu đế vào trong một vấn đề y khoa.  Ví dụ bệnh lao phổi là SỰ THỰC THỨ NHẤT: (Khổ).  Sự thực này ai cũng phải công nhận, bởi vì ai cũng có thể biết rằng bệnh lao phổi là một bệnh có thật.  Nếu bệnh lao phổi có thật thì những nguyên nhân tạo nên bệnh lao phổi cũng có thật: Đó là vì trùng Koch, là sự ăn ngủ thiếu điều độ, là sự thiếu ánh sáng và khí trời, vân vân… Sự có mặt của những nguyên nhân sinh ra bệnh lao phổi tức là SỰ THỰC THỨ HAI (Tập).  Không những các bác sĩ mà tất cả chúng ta đều biết rằng bệnh lao phổi có thể chữa lành được.  Sự lành bệnh ở đây là SỰ THỰC THỨ BA (Diệt).  Và muốn đi đến sự lành bệnh, ta phải theo những phương pháp chữa trị khoa học nhằm loại trừ những nguyên nhân làm ra bệnh.  Những phương pháp này, ví dụ sự xử dụng thuốc trụ sinh trong lành vân vân… là SỰ THỰC THỨ TƯ (Đạo).  Bất cứ vấn đề nào của sự sống cũng có thể được chữa trị theo nguyên lý Tứ Diệu Đế.

Trong chúng ta, ai cũng công nhận rằng khổ đau có mặt trong cuộc đời.  Nghèo đói, ốm đau, bệnh tật, chết chóc, thất vọng, biệt ly, bất đắc chí, đàn áp, bất công, tủi nhục…

The Four Noble Truths – Tứ diệu đế

SỰ THỰC THỨ NHẤT thật quá rõ ràng.  Phật tử, sau khi nhận thức được sự thực thứ nhất, phải tĩnh tâm quan sát để tìm ra sự thực thứ hai tức là những nguyên nhân sinh ra đau khổ.  Phương pháp do Phật chỉ dạy là phương pháp quán chiếu đạo lý duyên khởi.  Tĩnh tâm, tâm trung ý và căn cứ vào thực nghiệm, ta có thể phát giác ra những nguyên nhân xa gần đã tạo ra những khổ đau ấy.

SỰ THỰC THỨ HAI cần được khám phá một cách triệt để, nếu ta quả thực muốn tìm ra căn nguyên đích thực của chứng bệnh để chữa trị.  Đức Phật đã hướng dẫn ta nhìn vào sự thực thứ hai, những nguyên nhân của đau khổ, và ta cần nương theo những hướng dẫn ấy để khám phá.  Trước hết, Phật dạy rằng vô minh là một nguyên do lớn của khổ đau.  Vô minh là sự thiếu sáng suốt, là những nhận thức sai lạc về thế giới, thế giới nhân sự cũng như thế giới tự nhiên; những nhận thức đi ngược lại với đạo lý duyên khởi.  Quán triệt đạo lý duyên khỏi, ta có thể phá bỏ được vô minh:  Đó là chìa khóa của phương pháp Phật học.  Bất cứ một khổ đau nào cũng có những gốc rễ gần và xa của nó và ta cần đối trị với những gốc rễ ấy, hoặc trên bình diện cá nhân hoặc trên bình diện tập thể.  Hãy lấy ví dụ không khí ngột ngạt trong gia đình.  Cái không khí ngột ngạt ấy không thể tự nhiên mà có; trái lại, nó do nhiều nguyên nhân sinh khởi.  Có thể là những nguyên nhân kinh tế, có thể là những nguyên nhân tâm lý, có thể là những nguyên nhân xã hội.  Sự cau có của người cha sau một ngày làm việc mệt nhọc, tự nó, cũng có nhiều gốc gễ phiền phức.  Thái độ trách móc của người vợ, và sự thiếu hiểu biết của những người con có thể làm trầm trọng sự cau có kia lên.  Nếu tất cả mọi người trong gia đình đều biết tĩnh tâm quán chiếu để thấy rõ những nguyên do xa gần của không khí căng thẳng ngột ngạt trong gia đình thì tự nhiên thái độ cau có, trách móc và hờn dỗi tan biến, không khí ngột ngạt sẽ không trở nên trầm trọng và mọi người trong gia đình sẽ cộng tác tìm cách xóa bỏ dần những nguyên nhân gần xa đưa đến sự cau có của người cha vào buổi cuối ngày.  Thực ra thái độ dịu dàng, thông cảm và hiểu biết của người mẹ đã có thể làm dịu bớt nỗi cau có đó, và sự cộng tác của bà để chia xẻ những ưu tư, bực bội của chồng sẽ đóng góp rất nhiều trong việc tìm ra và tiêu diệt những nguyên nhân của sự cau có kia.  Tìm ra sự thực thứ hai không phải là dễ dàng như ta tưởng; nó đòi hỏi công phu thực tập tĩnh tâm thiền quán hàng ngày của mỗi người.  Thiếu công phu này, ta sẽ dễ dàng trút sự giận dữ và hờn oán lên kẻ khác, tại vì ta không thấy rõ đâu là nguyên nhân đích thực của những khổ đau mà ta chịu đựng.

Về mặt xã hội, sự vắng mặt các quyền căn bản dân chủ và tự do cũng có những nguyên nhân sâu xa của nó.  Nguyên nhân mà người hay nhắc đến nhất là một chế độ độc tài.  Nhưng đó không phải là nguyên nhân duy nhất.  Một chế độ độc tài chỉ có thể đứng vững được khi nó được hỗ trợ bởi một ngoại bang và khi mà dân chúng trong xã hội ấy không ý thức được quyền căn bản dân chủ và tự do của mình và không tranh đấu cho những quyền ấy.  Dân chủ và tự do cũng như bất cứ thứ hạnh phúc nào, không phải là những món quà từ trên trời rơi xuống; trái lại, phải tạo dựng, bồi đắp và bảo vệ mới có.  Những quyền dân chủ và tự do không phải là những điều do một chính quyền tốt ban bố, người dân phải biết học tập và xử dụng các quyền dân chủ tự do, phải biết tôn trọng các quyền dân chủ tự do của kẻ khác và phải biết đoàn kết với nhau để bảo vệ và tranh đấu cho những quyền kia khi chúng bị đe dọa.  Nếu ta biết rõ những nguyên nhân nào đã khiến cho các quyền dân chủ và tự do vắng mặt, chúng ta chắc chắn sẽ tìm ra được những phương pháp để thực hiện các quyền này trong xã hội của chúng ta.  Tĩnh tâm và quan sát tìm cho ra những nguyên nhân này tức cũng là thực hành sự thực thứ hai vậy.

SỰ THỰC THỨ BA là mục tiêu mà ta hướng đến.  Ta phải biết là ta muốn gì.  Đã đành ta có thể nói rằng sự thực thứ ba là hạnh phúc, nhưng ta không nên lầm hạnh phúc chân thực với những hình thái mới nhìn qua thì trông như hạnh phúc mà kỳ thực chỉ là những nguyên nhân của khổ đau.  Hạnh phúc chân thực được diễn tả trong đạo Phật như là sự vắng mặt của những khổ đau, là sự giải phóng của con người ra khỏi tham dục, hận thù và tối tăm, là sự đạt tới các đức vô úy, trầm tĩnh, đại hùng, khiến cho ta không còn là nạn nhân của sự sợ hãi, của những thành bại đắc thất tầm thường.  Trên căn bản của sự giải phóng đó, chắc chắn hạnh phúc phải là chân thực và bền vững.  Sức khoẻ, tài năng, sản nghiệp, tự do, công bình, dân chủ, vân vân… chỉ có thể trở nên những hình thái hạnh phúc thật sự trên nền tảng giải phóng đó.  Người Phật tử phải nhận thức rằng theo đuổi sự nghiệp giải thoát không phải là từ bỏ mọi hạnh phúc của cuộc đời, trái lại chính là để xây dựng một nền tảng vững chãi cho hạnh phúc.  Nếu không đạt tới căn bản giải thoát thì dù có mắt cũng không biết nhìn, có tai cũng không biết nghe, có cuộc đời cũng không biết sống, có những điều kiện hạnh phúc cũng không biết hạnh phúc.  Thế cho nên học tập để thấy rõ mục tiêu đích thực mà mình hướng tới tức là thực hành sự thực thứ ba.  Phải nhận thức sự thực thứ ba như một thực tại mà không phải một mơ ước hão huyền hay một mộng tưởng.  Sự an lạc mà chúng ta đạt đến do thực hiện những phương pháp Phật Giáo là điều có thể kiểm chứng được.  Bất cứ một nhân nào gieo xuống đều có thể đưa đến kết quả; không một nổ lực nào của ta có thể gọi là vô ích.  Nếu chúng  ta kiểm điểm để nhận thấy kết quả và tính cách hữu hiệu của những nỗ lực hành đạo hàng ngày của chúng ta, chúng ta sẽ có thêm đức tin nơi sự thực thứ ba; rõ ràng như người nông phu, sau khi áp dụng những phương pháp canh tác khoa học, gặt hái được gấp bội và có thêm đức tin về nguyên tắc cải tiến nông nghiệp.

SỰ THỰC THỨ TƯ là con đường, là phương pháp hành động.  Để đạt tới một đời sống an lạc hạnh phúc cho bản thân và cho xã hội, ta phải biết tìm đường, ta phải biết phương pháp hành động.  Sự thực thứ tư không phải là một số giáo điều hoặc giới luật có thể học thuộc lòng, trái lại là kết quả của những chiêm nghiệm sâu sắc về các sự thực thứ nhất, thứ nhì và thứ ba cùng những kinh nghiệm sống của chúng ta về các sự thực ấy.  Trong kinh ta thấy nói tới ngũ căn, ngũ lực, tam học, thất bồ đề, bát chánh đạo vân vân… Đó đều là những giáo lý thuộc sự thực thứ tư, những phương pháp có thể đem áp dụng trong đời sống để tiêu diệt khổ đau, kiến tạo an lạc.  Những giáo lý này chỉ có giá trị và hiệu lực khi ta biết đem chúng áp dụng một cách thông minh vào sự sống.  Trái lại nếu ta chỉ đọc tụng hoặc chiêm nghiệm mà không đem chúng áp dụng vào đời sống hàng ngày thì sự bổ ích sẽ không có được bao nhiêu.  Sau đây ta thử xét qua một ví dụ về sự thực thứ tư:  Đó là bát chánh đạo.

Các bài trong mục<< Những Đạo Lý Căn BảnBát chánh đạo >>

Chia sẻ Bài viết này

Bình luận bài viết

*